“Đức Phật làm nhiễu loạn lịch sử bằng việc can thiệp vào tiến trình chuyển dịch chậm chạp từ hiểu biết về Thần sang ý tưởng. Thiên tài thực thụ gần như luôn luôn có sự xâm lấn và can nhiễu (từ sinh mệnh siêu việt ở thời không khác?). Ông nói với thế giới hữu hạn từ thế giới vô hạn. Thế nên ông nói về tất cả những điều sai lầm vào thời điểm thích hợp. Sự thật vĩnh hằng không bao giờ là chân lý tại mỗi một khoảnh khắc trong lịch sử” – Carl Jung (Civilization in Transition)

Sự thật vĩnh hằng cũng như con voi. Nếu như ta nhìn vào mỗi một khoảnh khắc của lịch sử để tìm kiếm nó, thì cũng như người mù sờ voi, vĩnh viễn không thể nào nhìn ra chân tướng.

Carl Jung là một nhân vật hết sức đặc biệt, và tư duy của ông, nếu như có thể định vị trên bản đồ IQ, rất nhiều người sẽ đồng tình rằng, ông thuộc hàng ngoại hạng – off the chart. Trong Civilization in Transition, ông có ghi lại về một tình huống mà ông nhìn thấy từ chuyến du hành khắp Ấn Độ.

Ta trở lại với giác độ của người Tây Phương về Gods – Thần. Đối với Jung,

Gods – Thần là một trạng thái lý tưởng mà đời sống con người có thể đạt tới. Nghĩa là, nguyện ý hết sức thánh khiết của Thần nơi con người – chính là con người có thể đạt được tới tình trạng tối ưu tương đương với tình trạng của thần.

Và xã hội từ xa xưa, liên tục trong sự chuyển dịch dần dần từ Gods (Thần) sang Ideas (ý tưởng). Có nghĩa là khi con người tiến đến chặng cuối cùng, thì tình huống tối thượng sẽ chính là đạt được trạng thái của sinh mệnh đã kiến tạo ra mình.

Một ví dụ minh họa cho tình huống này là câu chuyện cổ tích Pinnoccio (cậu bé người gỗ).

Chuyện là người thợ mộc Geppetto tạo ra một người gỗ, và ông rất yêu quý tạo vật của mình. Ông sống đơn độc. Một ngày nọ, ông cầu nguyện cho cậu bé người gỗ có thể trở thành người thật, và Blue Fairy (Tiên Xanh) xuất hiện, ban phép màu cho cậu bé sức sống, có thể cử động chân tay.

Nhưng chỉ khi nào cậu bé để lương tâm dẫn dắt mình, trở nên dũng cảm, chân thành, vô tư… cậu bé mới có thể trở thành một con người thật, tức là tương tự như người cha thợ mộc đã tạo tác ra cậu. Trải qua những cuộc hành trình, cuối cùng Pinnoccio cũng đã được toại nguyện.

Nhưng qua câu chuyện của Pinnoccio, ta cũng nhìn ra một chuyện rằng, tạo vật của Thượng Đế rất có thể không phải được tạo ra để tận hưởng các tiện nghi trong đời này, mà phải trải qua một hành trình nào đó. Và biết đâu, ở chặng cuối hành trình là một tình huống mà họ đạt đến trạng thái tương tự như đấng sáng tạo ra họ?

Giác độ này không phải không có lý, khi Kinh Torah của người Do Thái ghi lại rằng, con người được tạo ra trong hình ảnh của Thần. Rõ ràng là người ta không thể đạt được cảnh giới của thần và bước vào thế giới của thần trong cơ thể của một con vật.

Nên nhớ lại rằng, đấng YHWH đi bộ (walk) với Adam, và Eve, và sau này là Noah. Đối với loài vật, ông cho con người cai quản, con người làm chủ các sinh vật khác trên đất.

Nói chung, Carl Jung và rất nhiều trí thức Tây Phương có để ý tới sự chuyển dịch trong tư tưởng của nền văn minh, từ việc xem Thần là Thần, tới việc xem Thần là trạng thái mà con người cần phải có trong một xã hội hài hòa. Chỉ có điều, Đức Phật Thích Ca xuất hiện vào 2500 trước, làm sụp đổ sự chuyển dịch đó.

Để duy trì tư tưởng về Thần, trong quá trình chuyển dịch đó, người đời lưu giữ ký ức qua các hình thức tôn giáo. Từ giác độ đó, cuộc tranh cãi liên tục giữa các Tôn Giáo thực chất là thứ không cần thiết, và trở nên thừa thãi một khi người đời nhìn ra điểm dừng của Đức Tin.

Ta thấy rằng Đấng YHWH là một vị Thần hết sức hà khắc. Ông lệnh cho Abraham bỏ xứ ra đi lúc hai vợ chồng đã rất già. Khi Sarai vợ của Abraham gần trăm tuổi, ông ban phước cho bà, thế là bà mang thai.

Ông cho Abraham biết rằng, ông sẽ giữ giao ước với Abraham và người Do Thái, và con cháu của Abraham sẽ phải làm nô lệ và bị đối xử tàn tệ trong suốt 400 năm.

Rõ ràng đối với người Việt Nam, nếu một vị thần xuất hiện và yêu cầu những điều đó, ngay cả trong giấc mơ đi chăng nữa, người đời sẽ khó lòng hiểu nổi tình huống đó: sinh sôi đầy trên đất, và con cháu bị đày đọa như nô lệ trong suốt mấy trăm năm? Chẳng phải đó là lời nguyền rủa của Thần sao, nếu như mục tiêu là có một cuộc sống hạnh phúc?

Rõ ràng theo đuổi hạnh phúc không phải là mục tiêu của đời người.

Tức là phải có một lí do gì đó, mà một sinh mệnh siêu việt có an bài như vậy? Ta không thể biết rõ. Nhưng các chuyên gia nghiên cứu trí tuệ nhân tạo hiểu rất rõ rằng, họ sẽ không bao giờ tạo ra một thứ trí tuệ nhân tạo chỉ để “hưởng thụ” cuộc đời này.

Và điều mà con người nỗ lực tạo ra, chính là một trí tuệ nhân tạo có thể tư duy độc lập như con người. Nếu ai xem Westworld thì nhìn ra câu hỏi này, rằng liệu qua hàng triệu vòng lặp trong một môi trường giả lập, một mô hình máy tính thông minh có thể tự nó thông minh hơn và đạt được tới trình độ lí trí như con người hay không?

Chúc may mắn, não người có hơn 150 ngàn tỷ synapses hoạt động liên tục. Và siêu máy tính bây giờ dẫu có phát triển tới đâu, tạo ra một mạng neuron hoạt động tương tự là điều bất khả.

Nhưng ta hãy trở lại với Đức Phật, thông qua một hình thức, người Á Châu gọi là Tu Luyện, mà Đức Phật minh chứng cho người rằng, qua ngày tháng tu luyện nội tâmcon người có thể đạt được tới trạng thái của Thần. 

Tức là cảnh giới tư tưởng tối cao, mà từ đó ông có quyền năng của việc tạo ra sinh mệnh tương tự như con người, thậm chí là cả một thế giới của riêng ông, gọi là Nirvana (Niết Bàn). Những đệ tử theo ông, tín thác nơi ông, ông sẽ mang sinh mệnh về đó, thoát khỏi vòng luân hồi.

Đấng YHWH hứa với dân Do Thái về một Heavens, một thiên quốc như vậy, miễn là người Do Thái đi tới cùng hành trình của mình.

Công ty Open AI đã tạo ra 1 trò chơi giả lập trốn tìm, với thành phần là những robot trí tuệ nhân tạo (AI Robots). Thế nhưng qua hàng triệu epochs (lượt chơi), rất nhiều bots vẫn không thể nhìn ra tình huống “ghép các mảnh tường vào để trốn“.

Nên các nhà khoa học gửi một “bot mẫu” vào môi trường này. Bot mẫu có chứa các parameters bao gồm bản đồ, nó biết cách lấy các mảnh tường ghép lại, để làm mẫu cho các bots khác.

Trước đó, bản thân các bots khác không thể nào tự động biết “thay đổi các tham biến nội tại“, để tự đạt được tới tình huống đó. Nhưng lần này, chúng quan sát bot mẫu và “bắt chước”.

Đấng YHWH đã gửi chúa Jesus – cũng tương tự với việc gửi vào môi trường một “bot mẫu” chứa đựng các parameters, các ký ức về việc đi cho tới cùng con đường của mình thế nào.

Carl Jung cho rằng nhân loại trong khi vẫn đang trong sự chuyển dịch đó, thì Đức Phật xuất hiện. Và tình huống của Đức Phật làm cho người Tây Phương, đặc biệt là những người tin vào đấng YHWH không thể hiểu nổi.

Tất nhiên, khi tư tưởng của nhân loại chưa đạt được tới độ chín đó, sự xuất hiện của Đức Phật làm lí trí tầm thường không thể liễu giải nổi.

Thái độ của người Tây Phương chính là từ chối ông, nhưng người Ấn Độ, họ tiếp nhận ông bằng Đức Tin. Đức Tin đó, ông giảng là Ngộ Tính.

Có những thứ vượt lên trên tầm mức tư tưởng có thể chịu đựng nổi, vĩnh viễn không thể nào tự họ suy luận và tự họ đạt tới, họ chỉ có thể tiếp nhận nó.

Tình huống này, gọi là “perceive” – đón nhận suy nghĩ, Đức Phật giảng là Ngộ. Và những người đi nhà thờ thì có thể quá quen thuộc, Đức Tin.

Tức là không thể suy nghĩ, không thể tư nghị. Chỉ có thể tiếp nhận.

Rất có thể đang có một quần thể các sinh mệnh siêu việt nào đó đang dõi theo xã hội con người, và nhìn thấy con người vẫn còn đang loay hoay với các tình huống tôn giáo. Nên họ thả vào đó một ký ức tu luyện, hiện thân của ký ức đó là Đức Phật, hay Đạo Gia ở Đông Phương.

Một năm của con người, đối với họ có thể chỉ là một chớp mắt, và sự kiểm soát thời gian, play/pause nằm ở trong tay họ.

(Andrew Nguyen)